Tổng hợp bài tập tình huống tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại Điều 170 Bộ luật hình sự và tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự

Bài tập tình huống 1

Khoảng 23h ngày 5/3/2018, A, B, C cùng sinh năm 1990 rủ nhau đến nhà chị H ở huyện E, tỉnh F để trộm cắp tài sản thì bị chị H phát hiện. A rút 1 con dao nhọn mang theo dí vào cổ chị H, B yêu cầu chị H đưa tiền, C đứng trợn mắt nhìn chị H. Chị H mở tủ đưa cho A bọc tiền 15.000.000đ, lấy được tiền B và C đẩy chị H vào phòng rồi cùng A bỏ chạy. A, B và C ăn tiêu hết số tiền trên và đến ngày 15/3/2018 thì ra công an trình diện.

CQCSĐT Công an huyện E  ra lệnh bắt khẩn cấp đối với A, B, C, quyết định tạm giữ 3 ngày từ 16h ngày 15/3/2018 đến 16h ngày 18/3/2018.

Ngày 18/3/2018, Cơ quan Công an huyện E ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lệnh tạm giam 4 tháng đối với A, B, C về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

VKSND huyện E sau khi nhận được đề nghị phê chuẩn của CQĐT Công an huyện E, nghiên cứu thấy A, B, C không phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). mà phạm tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). nên đã ban hành Quyết định hủy bỏ Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với A, B, C về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hỏi: Với tình huống trên anh (chị) có nhận xét gì về việc giải quyết cụ án của CQĐT và VKS?

Đáp án:

– CQCSĐT Công an huyện E ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là không chính xác theo Điều 110 BLTTHS năm 2015. Trường hợp này làm biên bản tiếp nhận A, B, C ra đầu thú theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015 rồi áp dụng biện pháp tạm giữ mới đúng quy định của BLTTHS.

– A, B, C đã có hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc (A dùng dao kề vào cổ chị H, B yêu cầu chị H đưa tiền, C đứng trợn mắt nhìn chị H ) làm cho chị H không thể chống cự được, buộc phải mở tủ giao tiền. Hành vi của A, B, C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). CQĐT Công an huyện E ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lệnh tạm giam 4 tháng đối với A, B, C về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là không đúng tội danh.

-CQĐT Công an huyện E ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh tạm giam là sai thẩm quyền theo Điều 153 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ Điều 155, Điều 180 BLTTHS năm 2015 thì VKSND huyện E: Ra Quyết định hủy bỏ các Quyết định khởi tố trái pháp luật, và yêu cầu Cơ quan CSĐT Công an huyện E ra các Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh tạm giam đối với A, B, C  về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

-Lệnh tạm giam 4 tháng không trừ thời gian tạm giữ là vi phạm quy định điều 119 BLTTHS năm 2015 và vi phạm Thông tư liên tịch số 05/2005.

Bài tập tình huống 2

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/5/2018, A (chưa có tiền án, tiền sự) đến tiệm Internet X thì gặp bạn là B đang chơi game. Biết B có xe mô tô nên A hỏi mượn để đi công việc. Khi mượn được xe, A điều khiển ghé vào trạm xăng để đổ xăng. Khi mở cốp xe, nhìn thấy trong cốp xe có giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy phép lái xe và giấy chứng minh nhân dân của B nên A nảy xin ý định đem xe đi cầm để lấy tiền tiêu xài. A điều khiển xe đến nhà trọ NT để tìm bạn là C. Khi đến nhà trọ, A gặp bạn là C liền hỏi mượn giấy chứng minh nhân dân của C để đi cầm xe. Nghĩ là A đi cầm xe của A nên C đồng ý. Liền sau đó, A điều khiển xe chở C đến tiệm cầm đồ để cầm chiếc xe nêu trên cho anh D (là chủ tiệm cầm đồ) với giá 03 triệu đồng, trong thời hạn 30 ngày Sau đó bỏ trốn  không trở về địa phương. Xe mô tô có giá trị 10 triệu đồng.

Thấy A không đem xe về trả nên B nhiều lần nhắn tin yêu cầu A trả xe. A nhắn tin qua điện thoại cho B biết là xe đã đem cầm và nói với B đến nhà trọ NT gặp C nhận lại giấy tờ và giấy cầm xe để đi chuộc xe. B đến nhà trọ gặp C nhận lại giấy tờ và giấy cầm xe. Sau đó, B trình báo cơ quan chức năng thu hồi lại xe mô tô trên.

Hỏi: A có phạm tội không? Nếu phạm tội thì phạm tội gì thuộc điều khoản nào của BLHS?

Đáp án:

A không phạm tội vì: Giá trị tài sản mà A chiếm đoạt là 03 triệu đồng (giá trị mà A cầm xe) nên hành vi của A không đủ yếu tố cấu thành tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2017) Bởi các lẽ: A mượn xe của B thông qua giao dịch mượn xe hợp pháp. Sau khi mượn được xe A mới nảy sinh ý định và đem xe đi cầm với giá 03 triệu đồng. Hành vi này của A là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; về giá trị tài sản mà A chiếm đoạt, mục đích mà A muốn chiếm đoạt là 03 triệu đồng (số tiền cầm xe) chứ không phải toàn bộ chiếc xe vì sau khi cầm xe, A đưa giấy cầm xe và chỉ nơi cầm xe để B đi chuộc xe; hơn nữa, A cầm xe trong hạn 30 ngày, chưa hết thời hạn nên A vẫn còn thời gian để chuộc lại xe và thực tế thì xe đã được thu hồi; do đó, trong trường hợp này xác định giá trị tài sản mà A chiếm đoạt chỉ là 03 triệu đồng chưa đủ định lượng để cấu thành tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Bài tập tình huống 3

Nguyễn Chí Linh vay  Trần Văn Thanh 60 triêu đồng đã đến thời hạn trả nợ nhưng Linh trốn tránh không trả. nên Thanh đã nhờ Hồ Quốc Bình và Lâm Trường Giang đi đòi nợ cho Thanh và thỏa thuận nếu đòi được thì Thanh sẽ trả công cho Bình và Giang 20 triệu đồng. Thanh, Bình, Giang bàn bạc sẽ gọi điện cho anh Linh đến một địa điểm ở huyện N để sửa máy xúc, sau đó buộc anh Linh phải cầm cố máy xúc lấy tiền trả cho Thanh. Đúng hẹn, anh Linh lái máy xúc đến địa điểm hẹn tại huyện N thì nhóm Thanh, Bình, Giang yêu cầu anh Linh trả tiền, nhưng anh Linh không có tiền trả và nhóm Thanh bảo anh Linh đi cầm cố máy xúc lấy tiền trả nhưng Linh không cầm cố được. Thanh bảo anh Linh viết giấy tự nguyện giao máy xúc cho Thanh, sau đó Thanh lấy xe mô tô chở anh Linh ra đường quốc lộ đón xe khách về nhà. Những ngày sau đó, Thanh điện thoại giục anh Linh trả tiền nhưng anh Linh không trả. Đến 08h ngày 12/3/2018, anh Linh điện thoại hẹn gặp Thanh để trả tiền đã nợ. Tại điểm hẹn, Thanh nhận tiền còn anh Linh nhận lại máy xúc thì Công an đến bắt giữ Thanh. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2018/HSST ngày 24/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện N kết án các bị cáo Thanh, Bình, Giang phạm tội “Cướp tài sản”.

Hỏi: Anh (chị) có nhận xét gì về bản án của Tòa án cấp sơ thẩm và đề xuất hướng giải quyết.

Đáp án:

Theo tình huống của bài tập đưa ra thì ban đầu giữa Thanh, Bình, Giang có bàn bạc mục đích đòi anh Linh phải trả số tiền đã nợ là 60 triệu đồng.Nhưng khi thực hiện, các bị cáo chỉ chửi bới, không có hành vi dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc đối với anh Linh. Mặt khác, sau khi giữ lại máy xúc của anh Linh, Thanh đã điện thoại cho anh Linh mang tiền đến để chuộc máy xúc về, như vậy thể hiện ý thức chủ quan của Thanh không có ý định chiếm đoạt chiếc máy xúc của anh Linh, mà chỉ muốn lấy lại số tiền mà anh Linh đã nợ Thanh. Hành vi của Thanh cùng Bình, Giang lấy số đông để áp đảo anh Linh khiến anh Linh sợ hãi, ký giấy tự nguyện bàn giao máy xúc chỉ thỏa mãn cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”, chứ không có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác như: Đầu độc anh Linh hay cho anh Linh uống thuốc mê làm cho anh Linh lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Do đó hành vi của Thanh, Bình, Giang không phạm tội “Cướp tài sản”. Tòa án huyện N xử phạt Thanh, Bình, Giang tội danh “Cướp tài sản” là chưa đúng quy định của BLHS 2015( sửa đổi, bổ sung 2017)

Quan điểm giải quyết: Đề xuất kháng nghị theo trình tự phúc thẩm bản án sơ thẩm của TAND huyện N theo hướng tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại.

Bài tập tình huống 4

A (sinh năm1988), B (sinh năm 1989) và C (sinh năm1994) cùng trú tại xã X, huyện Y rủ nhau đến nhà chị D lấy trộm số tiền trúng thưởng xố số của D. Sau khi bàn bạc, để tránh bị phát hiện, cả ba thống nhất giao cho C đến nhà D (cũng ở xã X) đe doạ D phải giao cho chúng một phần tiền trúng thưởng xổ số, nếu không chúng sẽ nói với chồng D về việc D có quan hệ bất chính với T. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi đến nhà chị D, C nói “chia cho bọn này một phần thì bọn này giữ kín chuyện cho, bằng không cả xã này biết bà ngoại tình”, D đã khước từ và thách thức sẽ báo cho công an biết về hành vi tống tiền của bọn chúng. Một phần vì sợ bị phát hiện, phần khác lại muốn có một khoản tiền để tiên xài, C liền rút dao trong người ra khống chế buộc D phải mở cửa tủ lấy tiền đưa cho C. Trong lúc D đang mở tủ lấy tiền thì T đến. Thấy T, C hoảng sợ đẩy D về phía T rồi cầm túi tiền bỏ chạy. D hô hoán kêu cứu. Đúng lúc đó, anh M – công an xã X đi qua đã kịp thời đuổi bắt được C, thu giữ túi xách với số tiền 30.000.000đ tiền trúng thưởng xổ số của D.

Hỏi: Hãy xác định tội danh và điều khoản Bộ luật hình sự cần áp dụng đối với hành vi nêu trên của A,B,C.

Đáp án:

Ban đầu A, B, C bàn bạc rủ nhau đến nhà chị D để đe doạ D phải giao cho chúng một phần tiền trúng thưởng xổ số, nếu không chúng sẽ nói với chồng D về việc D có quan hệ bất chính với T. Sau đó A, B, C thống nhất giao cho C thực hiện hành vi. Tuy nhiên, lúc C đến nhà D de dọa để chiếm đoạt tài sản theo như kế hoạch ban đầu đã thống nhất giữa A,B,C thì D không đưa tài sản mà còn thách thức C, C liền lút dao ra không chế D buộc đưa tiền. Trong lúc C mở tủ lấy tiền thì T đến, C đẩy  D sang chỗ T và cầm túi tiền bỏ chạy. Như vậy hành vi phạm tội của C đã chuyển hóa từ tội cưỡng đoạn tài sản theo như ban đầu là uy hiếp tinh thần D để D sợ mà giao tài sản sang tội cướp tài sản vì C đã có hành vi dùng dao khống chế D, khiến D lâm vào tình trạng không thể chống cự được để chiếm đoạt.

– Khách thể của tội phạm: Trong trường hợp như bài tập nêu ra thì hành vi của A,B,C đều xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của chị D. A, B, C phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp. Động cơ mục đích phạm tội là chiếm đoạt tài sản của chị D.

– Chủ thể của tội phạm: A, B, C đủ độ tuổi phải chịu TNHS và là những người có năng lực TNHS.

Từ sự phân tích trên cho thấy, đối với A và B phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản. A, B không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người thực hiện hành vi là C theo quy định tại Khoản 4, Điều 17 BLHS năm 2015.

Như vậy, A và B phạm tội cưỡng đoạt tài sản theo Khoản 1, Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015. C phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bài tập tình huống 5

Mai Văn A là đối tượng nghiện ma túy nên muốn tìm sơ hở của người khác để chiếm đoạt tài sản nhằm kiếm tiền mua ma túy sử dụng. Khoảng 22 giờ ngày 02/02/2018, khi đang lưu thông trên đường X, phường B, thành phố Đ, tỉnh Q, phát hiện cháu Tống Mỹ L (SN 2004) đang dừng xe nghe điện thoại bên đường, A chạy tới túm tóc và quát nạt buộc cháu L đưa tiền nhưng L nói không có nên A xô ngã L. Trong lúc L đang  hoản loạn, lợi dụng đêm tối A đã lấy xe đạp hiệu ASAMA của cháu L. Khi đang tẩu thoát thì A bị quần chúng phát hiện, đuổi bắt và dẫn giải đến Công an thành phố Đ. Trưởng Công an thành phố Đ đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, ra quyết định bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, ra quyết định tạm giữ trong thời hạn 03 ngày tính từ 23 giờ ngày 02/02/2018 đến 23 giờ ngày 05/02/2018.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Mai Văn A về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự 2015, ra lệnh tạm giam trong thời hạn 03 tháng đối với A, tính từ ngày 05/02/2018 đến ngày 04/05/2018.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã ra quyết định phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định khởi tố bị can, Lệnh tạm giam đối với bị can A.

Kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án và Bản kết luận điều tra sang Viện kiểm sát. Xét thấy không cần thiết tiếp tục tạm giam đối với bị can, nên Kiểm sát viên thành phố Đ được sự ủy quyền của Viện trưởng đã ra quyết định thay đổi BPNC tạm giam, áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 21/12/2018, xét thấy A không phạm tội Cưỡng đoạt tài sản nên Tòa án nhân dân thành phố Đ đã xét xử và tuyên phạt bị cáo Mai Văn A 04 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự 2015.

Là Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, anh (chị) hãy xác định những vi phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án nêu trên? Nêu hướng giải quyết?

Đáp án:

Nhận xét về các vi phạm pháp luật:

– Trưởng Công an thành phố Đ đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, ra quyết định bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, ra quyết định tạm giữ trong thời hạn 03 ngày tính từ 23 giờ ngày 02/02/2018 đến 23 giờ ngày 05/02/2018 đối với Mai Văn A là sai thẩm quyền, vì thẩm quyền trong trường hợp này thuộc Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ.

– Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Mai Văn A về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự 2015 là sai tội danh, cần khởi tố A về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự 2015 vì A đã có hành vi dùng vũ lực (Túm tóc, xô L ngã) và đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt xe đạp của L.

– Cơ quan CSĐT ra lệnh tạm giam trong thời hạn 03 tháng đối với A, tính từ ngày 05/02/2018 đến ngày 04/05/2018 là sai. Theo quy định tại khoản 4 Điều 118 BLTTHS và Điều 6 Thông tư liên tịch số 05/2005 thì Lệnh tạm giam cần phải trừ đi 03 ngày đã tạm giữ trước đó.

Hướng giải quyết:

– Đối với các vi phạm nêu trên, Kiểm sát viên cần đề xuất Lãnh đạo Viện không phê chuẩn, yêu cầu CQĐT hủy bỏ hoặc Viện kiểm sát trực tiếp hủy bỏ.

– Đối với các quyết định phê chuẩn sai, Viện kiểm sát phải trực tiếp ra quyết định hủy bỏ đồng thời kiểm điểm rút kinh nghiệm.

– Kiểm sát viên thành phố Đ được sự ủy quyền của Viện trưởng đã ra quyết định thay đổi BPNC tạm giam, áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với A là sai thẩm quyền, vì theo quy định tại Điều 42 BLTTHS thì Viện trưởng không được ủy quyền cho KSV thực hiện quyết định trên. Như vậy Viện trưởng VKS thành phố Đ cần hủy bỏ quyết định trên của KSV, đồng thời kiểm điểm rút kinh nghiệm.

– Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 21/12/2018, xét thấy A không phạm tội Cưỡng đoạt tài sản nên Tòa án nhân dân thành phố Đ đã xét xử và tuyên phạt bị cáo Mai Văn A 04 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự 2015 là vi phạm về giới hạn xét xử quy định tại Điều 196 BLTTHS. Trong trường hợp này, HĐXX cần hoãn phiên tòa và trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để truy tố về tội Cướp tài sản, chứ không thể tự xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Kiểm sát viên cần đề xuất Lãnh đạo Viện ban hành kháng nghị phúc thẩm theo hướng hủy án sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật do có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Điều 168 Bộ luật hình sự 2015

Điều 168. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 170 Bộ luật hình sự 2015

Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.