Bàn về trách nhiệm hình sự và khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại

Quy định về miễn trách nhiệm hình sự (khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015) và quy định về việc khỏi tố theo yêu cầu của bị hại mà bị hại không yêu cầu khỏi tố hoặc có yêu cầu nhưng sau đó rút yêu cầu (Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) có một số điểm tương đồng. Tuy nhiên, việc giải quyết vụ án trong mỗi trường hợp cho thấy sự bất hợp lý và chưa thỏa đáng giữa hai trường họp này.

1. Những điểm tương đồng

Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) theo khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 được quy định như sau: “Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự”. Theo đó, bốn điều kiện để người phạm tội có thể được xem xét miễn TNHS trong trường họp này cụ thể là: (1) Người phạm tội thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng; (2) Người phạm tội gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác; (3) Người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và (4) Người phạm tội đã được bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn TNHS.

Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì theo khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015 thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu trái với ý muốn của họ do bị ép buộc thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

So sánh giữa khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015Điều 155 BLTTHS năm 2015 cho thấy, nội dung của hai điều luật trên có một số điểm tương đồng sau đây:

Một là, đa số các tội phạm được quy định trong nội dung của hai điều luật đều là tội phạm ít nghiêm trọng và gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của người khác.

Trong 10 tội được ghi nhận tại Điều 155 BLTTHS năm 2015, có 08 tội phạm ít nghiêm trọng (khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 155, 156 và 226 BLHS năm 2015) và 02 tội phạm nghiêm ưọng do cố ý (khoản 1 các điều 141, 143 BLHS năm 2015). Một trong bốn điều kiện của việc miễn TNHS theo quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 cũng là người phạm tội thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng.

Đa số các tội phạm được ghi nhận tại Điều 155 BLTTHS năm 2015 đều là những tội gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của người khác (ngoại trừ khoản 1 Điều 226 BLHS năm 2015 về Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp). Đối chiếu với một trong bốn điều kiện để người phạm tội có thể được miễn TNHS theo quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015, đó là việc người phạm tội gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, có thể thấy sự tương đồng của hai quy định này (ngoại trừ việc Điều 155 BLTTHS năm 2015 không ghi nhận tội gây thiệt hại về tài sản của người khác thuộc trường hợp này).

Hai là, cả hai điều luật đều ghi nhận việc bị hại mong muốn miễn TNHS cho người phạm tội hoặc không yêu cầu khởi tố hoặc đã yêu cầu khởi tố sau đó rút yêu cầu.

Theo khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015, bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết rút yêu cầu khởi tố xuất phát từ hai nguyên nhân chính là người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được bị hại hoặc người đại diện của bị hại đồng ý rằng sẽ rút yêu cầu khởi tố. Đặt trong sự so sánh với một trong các điều kiện có thể được miễn TNHS theo quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 là người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả, nguyên nhân của hai trường hợp này hoàn toàn có sự tương đồng.

Ba là, quyết định tố tụng làm chấm dứt việc giải quyết vụ án trong quy định của hai điều luật trong giai đoạn điều tra và truy tố đều là quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án.

Trong giai đoạn điều tra và truy tố, trường họp người phạm tội được miễn TNHS theo quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 hoặc người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015, các cơ quan tiến hành tố tụng đều sẽ ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án. Cụ thể là nếu người phạm tội được miễn TNHS hay người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trong giai đoạn điều tra thì Cơ quan điều tra căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 230 BLTTHS năm 2015 để ra quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can đã bị khởi tố; nếu người phạm tội được miền TNHS hay người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trong giai đoạn truy tố thì Viện kiểm sát đều căn cứ vào khoản 1 Điều 248 BLTTHS năm 2015 để ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can.

2. Những điểm khác biệt

Một là, trong khi quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 mang tính tùy nghi (nghĩa là, nếu người phạm tội thỏa mãn các điều kiện được quy định tại khoản 3 Điều này thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn có thể xem xét để quyết định việc người phạm tội có được miễn TNHS hay không) thi quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015 mang tính bắt buộc (nếu bị hại đã yêu cầu khởi tố sau đó rút yêu cầu thì chắc chắn các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ phải ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can).

Có quan điểm cho rằng, vì quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 mang tính chất tùy nghi, nên các cơ quan tiến hành tố tụng còn cần phải xem xét việc người phạm tội phải lập công chuộc tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tinh tiết tăng nặng,… để đưa ra quyết định cuối cùng.

Tuy nhiên, theo tác giả nếu đã xem xét các tiêu chí đó để các cơ quan tiến hành tố tụng quyết định việc miễn TNHS thì trường hợp người phạm tội được bị hại rút yêu cầu khởi tố, dù người phạm tội không lập công chuộc tội, có nhân thân xấu, không có tình tiết giảm nhẹ, có tình tiết tăng nặng, đã có tiền án và tiền sự, người thực hiện hành vi phạm tội có chủ đích… thì vụ án được đình chỉ theo quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015.

Hai là, có quan điểm cho rằng, ngoại trừ các tội phạm gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phâm của người khác được quy định tại Điều 155 BLTTHS năm 2015 không thể áp dụng khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015, chỉ một số tội quy định tại Chương các tội xâm phạm sở hữu thuộc trường hợp “gây thiệt hại về tài sản của người khác” mới có thể được xem xét miễn TNHS theo khoản 3 Điều 29 BLHS; những tội phạm gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của người khác trong BLHS không thuộc trường hợp “gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác” theo quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS . Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, không thể hiểu một cách máy móc là các tội gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác có thể xem xét miền TNHS đều đã được quy định tại Điều 155 BLTTHS năm 2015.

Chẳng hạn, Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (khoản 1 Điều 137 BLHS năm 2015) hay Tội hành hạ người khác (khoản 1, 2 Điều 140 BLHS năm 2015)… cũng thuộc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người khác và hoàn toàn phù hợp với điều kiện tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015. Ngoài ra, cũng không nên đánh đồng việc các tội gây thiệt hại về tài sản của người khác phải là các tội thuộc Chương các tội xâm phạm sở hữu hay các tội gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của người khác chỉ là các tội thuộc Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phâm, danh dự của con người như nhận định trên. Ví dụ: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (khoản 1 Điều 260) thuộc Chương các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng nhưng đây vẫn là tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác và đáp ứng với điều kiện này tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015.

Ba là, về tính chất lỗi khi thực hiện tội phạm nghiêm trọng của người phạm tội quy định trong hai điều luật: Tại Điều 155 BLTTHS năm 2015, về các trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại có quy định hai trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý (khoản 1 các điều 141 và 143 BLHS năm 2015). Trong khi đó, tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 lại quy định các trường hợp phạm tội nghiêm trọng do vô ý mới có thể miễn TNHS.

Như vậy, trong hai trường hợp người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do cố ý theo quy định tại Điều 155 BLTTHS năm 2015, nếu vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại mà sau đó được bị hại rút yêu cầu một cách tự nguyện thì vụ án sẽ chắc chắn được đình chỉ. Ví dụ: Phạm Văn A phạm tội hiếp dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 141 BLHS năm 2015 là tội phạm nghiêm trọng do cố ý và bị hại là Phạm Thị C yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Phạm Văn A sau đó đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và được Phạm Thị C rút yêu cầu khởi tố, thì vụ án sẽ được đình chỉ theo khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015.

Trong khi đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015, trường hợp người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý, hoặc thậm chí là tội phạm ít nghiêm trọng, đã đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 3 điều này thì việc người phạm tội có thể được miễn TNHS hay không, còn tùy thuộc vào sự đánh giá và xem xét của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Ví dụ: V phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015 là tội phạm ít nghiêm trọng do vô ý và bị hại là T có tỉ lệ tổn thương cơ thể 62%. V sau đó đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và được T tự nguyện hòa giải, đồng thời đề nghị miễn TNHS, thì việc V có được miễn TNHS theo khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 hay không còn tùy thuộc vào việc xem xét quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng.

Đây là những điểm chưa hợp lý dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất trong quan điểm xử lý hình sự đối với các trường hợp phạm tội được quy định ở hai điều luật trên.

3. Một số kiến nghị

Qua những phân tích trên, có thể thấy nội dung của việc miễn TNHS theo quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 và việc khởi tố theo yêu cầu của bị hại mà bị hại không yêu cầu khởi tố hoặc bị hại có yêu cầu nhưng sau đó rút yêu cầu tại Điều 155 BLTTHS năm 2015 rõ ràng có những điểm tương đồng, tuy nhiên việc giải quyết vụ án trong mồi trường hợp cho thấy sự bất hợp lý và chưa thỏa đáng giữa hai trường hợp này.

Do đó, theo quan điểm của tác giả, nếu việc đình chỉ vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015 phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của bị hại thì việc miễn TNHS theo quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 cũng nên phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của bị hại mà không thể mang tính tùy nghi như luật định.

Ngoài ra, nên cân nhắc về tính phù hợp của việc Điều 155 BLTTHS năm 2015 ghi nhận hai tội phạm nghiêm trọng do cố ý thuộc trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại (Điều 141, Điều 143 BLHS năm 2015). Đối chiếu với khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015, người phạm tội thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng thì mới có thể được miễn TNHS, rõ ràng cần phải có một giới hạn hợp lý và thống nhất về loại tội phạm và tính chất lỗi trong việc áp dụng hai quy định này.

Từ các phân tích trên, tác giả đề xuất khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 2015 không nên quy định chỉ được khởi tố vụ án khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 141, 143 BLHS năm 2015.

Một vấn đề nữa cũng cần được xem xét là vụ án về tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 226 BLHS năm 2015 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp) được quy định là một trong những vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại có hợp lý hay không? Bởi quyền sở hữu công nghiệp muốn được bảo hộ thì chủ thể phải nộp đơn theo trình tự và quy định của pháp luật để Nhà nước xác lập quyền sở hữu công nghiệp, từ đó chủ thể thực thi quyền sở hữu công nghiệp, nên tội phạm xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ngoài việc gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của bị hại, còn xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước (trong khi các tội phạm còn lại được quy định tại Điều 155 BLTTHS năm 2015 và khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 đều xâm hại quyền và lợi ích của bị hại).

Do đó, tác giả đề xuất loại bỏ tội phạm tại khoản 1 Điều 226 BLHS năm 2015 thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại để thống nhất với quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 và phù hợp với yêu cầu phòng, chống loại tội phạm này.

Ngoài ra, giữa hai điều luật mặc dù cùng nhắc đến “người đại diện” nhưng lại chưa có sự thống nhất về mặt sử dụng từ ngữ. Khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 dùng cụm từ “người đại diện hợp pháp của người bị hại”, Điều 155 BLTTHS năm 2015 lại sử dụng cụm từ “người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết”. Do vậy, cần có quy định cụ thể thế nào là “người đại diện hợp pháp” của bị hại và trong những trường họp nào thì bị hại có người đại diện; có phải bị hại chỉ có người đại diện nếu là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết hay không. Ngoài ra, tại Điều 62 BLTTHS năm 2015 đã sử dụng thuật ngữ “bị hại” nên cần thống nhất cách sử dụng thuật ngữ này không chì trong khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015, mà còn trong những quy định khác của pháp luật hình sự./.

Phạm Đức Cường
Nguồn: Tạp chí kiểm sát số 16/2021