Kỹ năng kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự của Tòa án

Căn cứ pháp lý : Theo Khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014; Khoản 1, Khoản 2 Điều 27 Luật Tổ chức VKSND năm 2014; Khoản 1,Khoản 2 Điều 58 BLTTDS năm 2015 khi Kiểm sát các vụ việc dân sự, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ quyền hạn sau:

Thứ nhất, Kỹ năng kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu:

– Căn cứ vào Khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 thì khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, Thẩm phán nghiên cứu xem xét nếu thuộc các qui định tại Khoản 1 Điều 192 thì trả lại đơn khởi kiện đơn yêu cầu và nêu rõ lí do, đồng thời phải gửi thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp.

– Khi nhận được văn bản thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án thì Viện trưởng phân công Kiểm sát viên kiểm sát trả laị đơn khởi kiện. Kiểm sát viên được phân công kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiên, đơn yêu cầu, đặc biệt là làm rõ lí do trả lại đơn khởi kiện. Nếu phát hiện thấy có vi phạm thì theo qui định tại Khoản 1 Điều 194 trong thời hạn 10 ngày Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo ra văn bản kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khơi kiện.

– Kiểm sát viên phải chuẩn bị bài phát biểu trình lãnh đạo duyệt về việc vi phạm pháp luật của Tòa án trong việc trả lại đơi khởi kiện.

– Theo qui định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 194 BLTTDS 2015 thì trong thời hạn 5 ngày làm viêc kể từ ngày được Chánh án phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét giải quyết khiếu nại của người khởi kiện và kiến nghị của Viện kiểm sát.

– Kiểm sát viên tham gia phiên họp xem xét giải quyết khiếu nại kiến nghị của Tòa án và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về tính có căn cứ, tính hợp pháp của khiếu nại, kiến nghị; việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng.

– Căn cứ vào tài liệu chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát và đương sự, Thẩm phán có thể ra các quyết định sau đây:

+ Giữ nguyên quyết định trả lại đơn khởi kiện

+ Nhận lại đơn khởi kiện

– Nếu thấy quyết định giữu nguyên quyết định  trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán có vi phạm Luật thì theo qui định tại Khoản 5 Điều 194 BLTTDS 2015 Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo làm văn bản kiến nghị lên Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp (trong thời hạn 10 ngày)

– Ngoài ra hàng tháng Viện kiểm sát cần phối hợp với Tòa án trong việc dối chiếu, so sánh để phát hiện những trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu nhưng không thông báo cho Viện kiểm sát biết để ra văn bản yêu cầu Tòa án khắc phục.

Thứ hai, Kỹ năng kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự:

– Theo qui định tại Điều 195 BLTTDS năm 2015 thì sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo, nếu thấy vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp mình thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí, sau khi đã nộp tiền tạm ứng án phí thì TP vào sổ thụ lý.

– Theo qui định tại Khoản 1 Điều 196 BLTTDS năm 2015 Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án

– Khi nhận được thông báo thụ lý, lãnh đạo viện phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc thụ lý của Tòa án. Kiểm sát viên được phân công phải vào sổ thụ lý, lập phiếu Kiểm sát, kiểm tra nội dung và thời hạn ra thông báo theo qui định tại Điều 196, Điều 365 BLTTDS năm 2015. Riêng đối với các vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Kiểm sát việc Tòa án niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án về việc thụ lý.

– Khi Kiểm sát việc thụ lý của Tòa án , Kiểm sát viên cần tiến hành các hoạt động sau đây:

+ Kiểm sát thời hạn ra thông báo thụ lý theo qui định tại Khoản 3 Điều 191, Khoản 2 Điều 363 BLTTHS.

+ Kiểm sát nội dung của thông báo thụ lý bao gồm:

Một là, Làm rõ quan hệ pháp luật phát sinh yêu cầu hoặc tranh chấp. Khi kiểm sát, Kiểm sát viên cần xem xét quan hệ pháp luật có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại các Điều 26, Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 32, Điều 33 BLTTDS năm 2015  hay không.

Hai là, Xác định thẩm quyền thụ lý của Tòa án. Kiểm sát viên cần xem xét Tòa án đã thụ lý vụ việc dân sự có thuộc thẩm quyền theo qui định tại các Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40 BLTTDS năm 2015 hay không. Nếu thụ lý không đúng thẩm quyền thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo để yêu cầu, kiến nghị Tòa án (đã thụ lý ) ra quyết định chuyển cho Tòa án có thẩm quyền theo qui định tại Khoản 1 Điều 41.

Kiểm sát việc nhập tách vụ án theo qui định tại Điều 42 BLTTDS năm 2015, nếu phát hiện có vi phạm thì báo cáo Lãnh đạo kiến nghị Tòa án khắc phục.

Ba là, Xác định thời hiệu khởi kiện, Kiểm sát viên phải làm rõ những trường hợp áp dụng hời hiệu khởi kiện, những trường hợp không có qui định về thời hiệu.

Bốn là, Trường hợp Tòa án không gửi hoặc chậm gửi thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát hoặc nội dung hình thức không đúng qui định thì Kiểm sát viên báo cáo Lãnh đạo ra văn bản yêu cầu hoặc kiến nghị với Tòa án để khắc phục.

– Ý nghĩa:

Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện và kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự của Tòa án là nhằm bảo đảm cho việc trả lại đơn khởi kiện và thụ lý vụ việc dân sự được khách quan, đầy đủ, đúng pháp luật; bảo vệ quyền và lợi ịch hợp pháp của Cơ quan, tổ chức ,cá nhân.

– Liên hệ thực tiễn:

Trong những năm vừa qua, việc kiểm sát trả lại đơn khởi kiện và kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự vẫn còn một số hạn chế như: Tòa án chậm gửi thông báo thụ lý, một số trường hợp thì Tòa án không gửi thông báo trả lại đơn khởi kiện, thông báo thụ lý. Tuy nhiên do tình trạng nể nang, hoặc do Kiểm sát viên chưa phát hiện được vi phạm do đó chưa ra văn bản yêu cầu hoặc kiến nghị Tòa án khắc phục, làm ảnh hưởng đến chất lượng kiểm sát vụ việc dân sự.

– Để khắc phục tình trạng trên, cần có các giải pháp như:

+ Tăng cường công tác quản lý chỉ đạo điều hành.

+ Nâng cao ý thức trách nhiệm cũng như năng lực trình độ của đội ngũ Kiểm sát viên trong kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự.

+ Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng Nghiệp vụ.

+ Tăng cường quân hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án.