Câu hỏi:

Phân tích nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lời:

1. Nêu khái niệm và điều luật qui định:

Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là nguyên tắc cơ bản đồng thời còn là chế định quan trọng của Luật Tố tụng hình sự mang ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và đảm bảo tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Quyền bào chữa là tổng hợp các hành vi tố tụng của bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với các qui định của pháp luật nhằm đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan tiến hành tố tụng.

Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được qui định tại Điều 11 BLTTHS như sau: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này.”

2. Phân tích các nội dung:

Quyền bào chữa được thực hiện từ khi có quyết định tạm giữ đối với một người của cơ quan có thẩm quyền, trừ trường hợp phải giữ bí mật điều tra đối tội đạc biệt nguy hiểm xâm phạm An ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra. Việc qui định để người bào chữa tham gia sớm vào hoạt động tố tụng hình sự là phù hợp với xu hướng dân chủ góp phần đảm bảo các quyền và lợi ích của bị can, bị cáo.

Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo do chính họ thực hiện hoặc nhờ người khác bào chữa cho họ. Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được cụ thể hoá trong các điều của BLTTHS 2003 về quyền của họ khi tham gia tố tụng (các điều 48,49,50) và về quyền của người bào chữa (các điều 56, 57, 58) cũng như các qui định khác có liên quan… Theo các qui định này thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được sử dụng các quyền mà pháp luật qui định cho họ để chống lại sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với mình bằng cách đưa ra các chứng cứ, đồ vật, tài liệu, yêu cầu và tranh luận bình đẳng trước toà. Để đảm bảo và tạo điều kiện cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa, Luật tố tụng hình sự qui định các quyền năng cụ thể cho bị can, bị cáo như: được quyền biết mình bị khởi tố về tội gì, đưa ra các chứng cứ và yêu cầu, được giao nhận quyết định khởi tố, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn hoặc quyền được giao nhận cáo trạng, quyết định đưa ra xét xử… Ngoài ra pháp luật còn có các qui định về tổ chức Luật sư, bào chữa viên nhân dân… nhằm để bị can, bị cáo có điều kiện thực hiện quyền bào chữa của mình

Tuy rằng, việc nhờ người khác bào chữa là quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng trong một số trường hợp mặc dù bị can, bị cáo không nhờ người khác bào chữa thì Toà án vẫn phải chỉ định người bào chữa cho họ. Những trường hợp đó là: Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự; Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền lựa chọn người bào chữa, và ngay cả trong trường hợp người bào chữa do Toà án chỉ định thì bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ cũng có quyền thay đổi người bào chữa hoặc từ chối người bào chữa. Trong trường hợp bị can, bị cáo nhờ người bào chữa, bào chữa cho mình thì người bào chữa có quyền có mặt khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì họ được hỏi bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác. Người bào chữa có các quyền được qui định tại Điều 56 BLTTHS nhằm đảm bảo cho họ có thể bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án.

Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ được đảm bảo khi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án các cơ quan tiến hành tố tụng cần tạo điều kiện thuận lợi để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện được quyền bàn chữa mà pháp luật đã qui định. Mọi biểu hiện ngăn cản người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa đều là vi phạm pháp luật nghiêm trọng và bị xử lý.

3. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc này cần lưu ý những điểm sau:

Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo gắn liền với việc thực hiện trách nhiệm của các CQTHTT, vì vậy trong mọi giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án CQTHTT cần tạo điều kiện và thực hiện đầy đủ các qui định của pháp luật về đảm bảo quyền bào chữa. Việc cản trở quyền bào chữa dưới bất kỳ thủ đoạn nào đều bị coi là vi phạm nguyên tắc này

Cơ quan điều tra phải thông báo cho người bị tạm giữ biết lý do bị tạm giữ, giải thích quyền và nghiã vụ tố tụng đối với họ. Khi họ có quyết định khởi tố bị can họ có quyền được biết bị khởi tố về tội gì và được giải thích về quyền và nghĩa vụ của bị can.

Cơ quan tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thu thập, đưa ra các tài liệu, đồ vật, yêu cầu để chứng minh sự vô tội hoặc tình tiết giảm nhẹ TNHS của họ.

Cơ quan tiến hành tố tụng cần tạo điều kiện để người bào chữa thực hiện được trách nhiệm của mình trong quá trình giải quyết vụ án, nhất là quyền được gặp gỡ bị can, bị cáo khi bị tạm giam.
Đảm bảo để bị cáo thực hiện quyền bào chữa tại phiên toà, tranh luận với KSV.