Thông báo rút kinh nghiệm số 111/TB-VKSTC ngày 21 tháng 5 năm 2021 về vụ án Nguyễn Đức Trí và đồng phạm, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý, giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án Nguyễn Đức Trí và đồng phạm về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” ở thành phố Hồ Chí Minh, nhận thấy có vấn đề cần rút kinh nghiệm như sau:

1. Nội dung vụ án

Công ty trách nhiệm hữu hạn tư vấn thiết kế xây dựng KTT do Nguyễn Đức Trí và vợ là Nguyễn Thị Mộng Kiều Tiên đăng ký thành lập ngày 13/11/2003, vốn điều lệ 1,5 tỷ đồng. Nguyễn Đức Trí làm Giám đốc, quyết định điều hành mọi hoạt động kinh doanh của công ty, là người đại diện theo pháp luật của công ty, thuê Trương Xuân Quang làm Kế toán trưởng.

Trí đã chỉ đạo Quang thực hiện các hành vi gian dối, nâng khống vốn của Công ty, lập khống hồ sơ Dự án đầu tư khu dân cư Central Park tại phường Tân Phú, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh để vay vốn của Ngân hàng Agirbank chi nhánh Bình Chánh, dự án này không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Cụ thể, Trí chỉ đạo Quang lập khống 16 phiếu chi tiền để vay 100 tỷ đồng; lập khống hồ sơ kinh doanh vật liệu xây dựng và 06 hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng để vay 10 tỷ đồng, tổng số hai khoản trên là 110 triệu đồng.

Từ ngày 15/11/2007, AgriBank Bình Chánh giải ngân cho Trí vay 99 tỷ đồng, đến ngày 21/12/2007, thu hồi lại số tiền gốc 3 tỷ đồng nên thực tế Trí nhận 96 tỷ đồng, số tiền này Trí làm thủ tục chuyển sang tài khoản của Công ty KTT tại Ngân hàng Vietcombank khu chế xuất Tân Thuận. Sau khi nhận được tiền do Agribank Bình Chánh giải ngân, Trí không sử dụng để mua đất, thực hiện dự án Central Park theo như đề nghị vay vốn ghi trong hợp đồng đã ký với Agribank mà chiếm đoạt, sử dụng cá nhân, sai mục đích, trong đó có khoản chi sau:

Vào các ngày 04/01và 18/02/2008, Trí trả cho bà Ngô Thị Bích Toàn 46 tỷ đồng để thanh toán một phần tiền đất 1.774m2 ở số 28-30 Nguyễn Biểu, phường 1, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh mà Trí nhận chuyển nhượng của bà với giá 188 tỷ đồng. Do hợp đồng chuyển nhượng không thực hiện được nên bà Toàn trả lại cho Trí 27,2 tỷ đồng, còn lại 18,8 tỷ đồng bà không trả cho Trí, với lý do phạt vi phạm tiển đặt cọc họp đồng 10%.

Sau đó bà Ngô Thị Bích Toàn dùng số tiền 18,8 tỷ đồng này mua nhà đất tại số 640 đường 2/9, phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Ủy ban nhân dân quận Hải Châu ban hành quyết định có ký hiệu BD938223 ngày 15/12/2010 cấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà Toàn; hiện bà vẫn là chủ sở hữu, chủ sử dụng phần đất này.

2. Quá trình giải quyết vụ án

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 194/2016/HSST ngày 31/5/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định xử phạt Nguyễn Đức Trí tù chung thân, Trương Xuân Quang 20 năm tù về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Buộc bà Ngô Thị Bích Toàn nộp lại số tiền 18,8 tỷ đồng để bảo đảm thi hành án mà Nguyễn Đức Trí bồi thường cho Agribank. Tiếp tục tạm giữ tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 640 đường 2/9, phường Hòa Cường Nam, Hải Châu, Đà Nẵng của bà Ngô Thị Bích Toàn theo Lệnh kê biên tài sản số 01/C46-P7 ngày 06/01/2016 của Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an để bảo đảm thi hành án về phần trách nhiệm dân sự của bà Toàn.

Ngày 03/6/2016, bà Ngô Thị Bích Toàn kháng cáo, đề nghị giải tỏa lệnh kê biên nhà đất nêu trên của bà.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 561/2017/HSPT ngày 20/10/2017, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định tách mối quan hệ mua bán tài sản giữa bà Ngô Thị Bích Toàn và Nguyễn Đức Trí thành vụ án khác; giải tỏa Lệnh kê biên tài sản số 01/C46-P7 ngày 06/01/2016 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 640 đường 2/9 phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu, Đà Nẵng thuộc sở hữu của bà Ngô Thị Bích Toàn.

Chánh án Tòa án nhân dân tối cáo đã quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án nêu trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Quyết định giám đốc thẩm số 09/2021/HS-GĐT ngày 03/03/2021 đã chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, quyết định hủy phần quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao về việc tách quan hệ mua bán tài sản giữa bà Ngô Thị Bích Toàn với bị cáo Nguyễn Đức Trí và giải tỏa lệnh kê biên nhà đất ở số 640, đường 2/9 nêu trên mà bà Toàn đã dùng tiền của Trí để mua.

3. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

Vấn đề cần rút kinh nghiệm là: nguồn gốc số tiền 46 tỷ đồng Nguyễn Đức Trí trả cho bà Ngô Thị Bích Toàn để mua nhà đất của bà là số tiền do Trí phạm tội, chiếm đoạt của Ngân hàng Agribank chi nhánh Bình Chánh mà có. Do việc mua bán không thành, bà Toàn trả lại Trí 27,2 tỷ đồng và giữ lại 18,8 tỷ đồng tiền cọc rồi dùng số tiền này mua nhà đất. số tiền này, chuyển thành nhà đất bà Toàn đã mua được xác định là vật chứng của vụ án và cần phải kê biên để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án mà Trí phải bồi thường cho Ngân hàng Agribank, đúng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Bản án phúc thầm cho rằng việc giao dịch chuyến nhượng đất giữa Trí và bà Toàn là giao dịch dân sự, chưa được cơ quan có thẩm quyền công nhận và chưa có căn cử xác định khoản tiền 18,8 tỷ cũng như nhà đất bà Toàn dùng số tiền này để mua là vật chứng của vụ án, từ đó sửa bản án sơ thẩm, tách mối quan hệ mua bán này thành vụ án khác và giải tỏa lệnh kê biên tài sản – quyền sử dụng đất của bà Toàn tại 640 phường Hòa Cường Nam, thành phố Đà Nẵng là vi phạm Điều 47 Bộ luật hình sự về xử lý vật chứng.

Quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm, phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã không phát hiện được vi phạm này của Tòa án cấp phúc thẩm để có hướng xử lý phù hợp.

Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thông báo để các đơn vị cùng rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiếm sát xét xử hình sự trong toàn ngành./.

Thông báo rút kinh nghiệm số 02/TB-VC2-V1 ngày 06 tháng 12 năm 2019 về Vụ án: Trần Quốc Thịnh phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị hủy án để điều tra lại.

Thông qua công tác giám đốc thẩm vụ án Trần Quốc Thịnh phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị Hội đồng xét xử giám đốc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy Bản án sơ thẩm và phúc thẩm để điều tra lại, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thấy cần trao đối rút kinh nghiệm chung, nhu sau:

1. Nội dung vụ án:

Do thua cá độ bóng đá nợ tiền của nhiều người dẫn đến mất khả năng trả nợ nên vào khoảng tháng 6/2016 Trần Quốc Thịnh nảy sinh ý định làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) để lừa gạt người khác kiếm tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, Thịnh lên trên mạng Internet tìm kiếm thông tin của anh Nguyễn Thanh Long có ghi rõ số lô, số thửa nên Thịnh lưu lại và liên lạc với đối tượng “CaoMinhChieu” (chưa rõ lai lịch) đặt làm 01 GCNQSDĐ giả có thông tin của anh Long nhưng chủ sở hữu lại là Thịnh với giá 10.000.000đ. Sau khi có GCNQSDĐ giả, Thịnh đem cầm cố cho tiệm cầm đồ của anh Võ Kim Ba lấy 60.000.000đ nhưng mất khả năng trả nợ nên tiếp tục nhờ anh Ba tìm người để Thịnh chuyển nhượng lại lô đất khống nêu trên. Anh Ba tưởng là thật nên đã giới thiệu cho Thịnh gặp vợ chồng anh chị Trương Hưng- Nguyễn Thị Yen Nhi. Anh Hưng, chị Nhi được Thịnh dẫn đến xem vị trí lô đất khống nên tin tưởng và đồng ý giao dịch chuyển nhượng với giá 330.000.00đ tại Văn phòng công chứng Trọng Tâm- Đà Nẵng. Đến ngày 03/02/2017, khi anh Hưng chị Nhi đi làm thủ tục sang tên trước bạ thì bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tạm giữ GCNQSDĐ do có nghi ngờ trái pháp luật. Qua giám định của cơ quan chuyên môn, kết luận GCNQSDĐ nêu trên là giả.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2017/HSST ngày 21/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê. Tuyên bố bị cáo Trần Quốc Thịnh phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự 1999 xử phạt bị cáo Trần Quốc Thịnh 05 năm tù. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Do có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, tại Bản án hình sự phúc thẩm số 219/2017/HSPT ngày 13/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng tuyên chấp nhận kháng cáo và giảm hình phạt cho bị cáo còn 04 năm 06 tháng tù.

Ngày 11/5/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã kháng nghị Bản án phúc thẩm và sơ thẩm nêu trên theo trình tự giám đốc thẩm và đề nghị hủy án để điều tra lại. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 74/2019/HS- GĐT ngày 13/11/2018 của ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã tuyên chấp nhận kháng nghị, hủy bản án phúc thẩm và sơ thẩm để điều tra lại đối với bị cáo Trần Quốc Thịnh về tội: Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chứctheo đúng quy định của pháp luật.

2. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

Trong vụ án này, bị cáo Trần Quốc Thịnh lấy thông tin của anh Long đặt làm GCNQSDĐ giả mang tên mình đế chiếm đoạt 330.000.000đ của vợ chồng anh Hưng, chị Nhi nên cơ quan tiến hành tố tụng hai cấp thành phố Đà Nẵng truy tố xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào 02 khách thể độc lập được Bộ luật Hình sự bảo vệ, đó là quyền sở hữu tài sản và trật tự quản lý hành chính nhà nước nên lẽ ra phải bị truy cứu thêm tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo Điều 267 Bộ luật Hình sự 1999 (nay là Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015) nhưng Tòa án chưa xem xét là bỏ lọt tội phạm dẫn tới Bản án bị hủy để điều tra lại về tội danh nêu trên.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến các Viện kiểm sát trong khu vực cùng nghiên cứu rút kinh nghiệm chung, nhằm nâng cao chất lượng trong việc giải quyết các vụ án hình sự./.

Thông báo rút kinh nghiệm số 66/TB-VC1-V1 ngày 10 tháng 9 năm 2020 về Vụ án Hoàng Thị Hương, Bùi Thị Thùy Dung phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Thông qua công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thông báo để Viện kiểm sát nhân dân địa phương trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự tham khảo rút kinh nghiệm, cụ thể như sau:

1. Nội dung vụ án

Bùi Thị Thùy Dung không có chức năng tuyển dụng nhưng khi biết được ông Đỗ Tiến Khoa có mong muốn xin cho con trai vào Kho bạc nhà nước huyện Tân Lạc và con dâu vào làm giảng viên trường Cao đẳng kinh tế kĩ thuật, Bùi Thị Thuỳ Dung đã trao đổi với Hoàng Thị Hương về việc chạy việc cho con trai và con dâu ông Khoa. Qua trao đổi, Hương bảo chi phí khoảng 200-250 triệu đồng để xin vào Kho bạc nhà nước và chi phí khoảng 150-180 triệu đồng để xin vào ngành giáo dục. Sau khi Hương và Dung thống nhất số tiền để chạy việc. Dung trực tiếp gặp ông Khoa và trao đổi với ông Khoa chi phí để xin vào kho bạc là 300 triệu đồng và 270 triệu đồng để xin vào ngành giáo dục. Ông Khoa đồng ý và đưa cho Dung tổng số tiền là 570 triệu đồng, ông Khoa và Dung thống nhất viết hai giấy biên nhận tiền, một giấy ghi Dung nhận 300 triệu đồng và một giấy ghi Dung nhận 270 triệu đồng, lý do vay tiền của ông Khoa để giải quyết việc cá nhân.

Sau khi nhận tiền từ ông Khoa, Dung đã chuyển tổng số tiền cho Hương là 417 triệu đồng qua nhiều lần và nhiều hình thức khác nhau. Còn lại 153 triệu đồng Dung giữ lại chi tiêu cá nhân và không nói cho Hương biết cụ thể. Sau gần 01 năm, con trai và con dâu ông Khoa không được trúng tuyển để đi làm, ông Khoa đã làm đơn tố cáo Bùi Thị Thuỳ Dung đến cơ quan điều tra để xử lý theo pháp luật.

2. Quá trình giải quyết vụ án

Kết luận điều tra số 29/KLĐT-CQĐT-PC02 ngày 01/7/2019 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đề nghị truy tố bị can Hoàng Thị Hương và Bùi Thị Thùy Dung về tội Lừa đảo chiểm đoạt tài sản theo điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS 1999, nay là điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS 2015.

Cáo trạng số 35/CT-VKS-P2 ngày 23/8/2019 của VKSND tỉnh B truy tố bị can Hoàng Thị Hương, Bùi Thị Thùy Dung vê tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS 2015.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2019/HS-ST ngày 03/12/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh B căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Hoàng Thị Hương 9 năm tù; xử phạt bị cáo Bùi Thị Thùy Dung 7 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Hoàng Thị Hương không kháng cáo; bị cáo Bùi Thị Thùy Dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Dung rút kháng cáo nên HĐXX cấp phúc Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 160 ngày 07/7/2020.

3. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

Về xác định số tiền chiếm đoạt để áp dụng khung hình phạt đối với bị cáo Hương: Trong vụ án này, bị cáo Dung là người trực tiếp liên hệ và nhận tiền từ ông Khoa để hứa hẹn xin việc cho con ông Khoa với tổng số tiền là 570 triệu đồng. Tuy nhiên, khi Dung trao đổi với Hương về xin việc, chỉ trao đổi về trường hợp xin vào Kho bạc thì chi phí từ 200-250 triệu đồng/suất và chi phí khoảng 150-180 triệu đồng/suất để xin vào ngành giáo dục, Hương không biết Dung nhận từ ông Khoa bao nhiêu tiền và thực tế Hương chỉ nhận 417 triệu đồng từ Dung, nên Hương chỉ phạm tội theo khoản 3 Điều 174 BLHS 2015, nhưng Cơ quan tổ tụng cấp sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS để truy tố, xét xử đối với bị cáo Hoàng Thị Hương là không đúng qui định pháp luật, gây bất lợi cho bị cáo. Tuy nhiên, với mức án 9 năm tù đối với bị cáo Hoàng Thị Hương là phù hợp, nằm trong khoản 3 Điều 174 BLHS có mức hình phạt từ 7-15 năm tù nên VKS cấp cao tại Hà Nội xét thấy không cần thiết kháng nghị giám đốc thẩm.

Trên đây là một số thiêu sót, trong việc xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt để áp dụng khung hình phạt. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thông báo để Viện kiểm sát các địa phương rút kinh nghiệm./.