Tổng hợp bài tập tình huống tội cố ý gây thương tích, cướp tài sản

Nội dung vụ án 1

Khoảng tháng 1/2015, Võ C. và Nguyễn V. có cho anh Nguyễn Kh. vay số tiền 145 triệu đồng, sau đó Kh. đã trả 75 triệu đồng còn nợ 70 triệu đồng. Số tiền còn nợ anh Kh. hứa hẹn nhiều lần nhưng chưa trả.

Chiều ngày 21/01/2016, khi anh Kh. đang ở phòng trọ của bạn gái tại Tp B, tỉnh Đ thì Nguyễn V. và Huỳnh V. H. cùng đi vào phòng trọ gặp Kh. nói chuyện về việc trả tiền nợ. Sau khi gặp, Nguyễn V. nói Kh. lên xe ô tô chở về nhà trọ của Võ C. và Nguyễn V. ở số 48 Nguyễn Bỉnh Khiêm, TP. B. Tại đây, Võ C. và Nguyễn V. hỏi Kh. về việc mượn tiền nhưng chưa trả và nhiều lần trốn nợ. Bức xúc do Kh. không trả tiền nên Võ C. và Nguyễn V. dùng tay, chân đánh vào người Kh. nhưng chưa gây thương tích. Một lúc sau Huỳnh. H. và Nguyễn M. đến; lúc này Võ C. nói Nguyễn V., Nguyễn M. và Huỳnh H. đi cùng Kh. về nhà Kh. để gặp bố mẹ của Kh. để giải quyết việc nợ tiền. Võ V. điều khiển xe ô tô chở H., M. và Kh. về nhà Kh. Khi đến nơi thấy nhà Kh. có khách nên nên Nguyễn V. chở trở về lại.

Trên đường đi, M. gọi điện thoại nhờ Trịnh Q. A. để chở Kh. Trịnh Q. A. sử dụng xe mô tô chở Kh. về nhà trọ của bạn gái của M. ở 308-Trần Phú, Tp B. Biết anh Kh. nợ tiền của V. và C. chưa trả nên Trịnh Q. A. sử dụng bộ kích điện và tay chân đánh anh Kh. gây thương tích, đồng thời ép buộc anh Kh. lấy điện thoại gọi cho ba, mẹ và bạn gái (tên là T.A) nói:“Em về nói bố mẹ mang tiền lên trả nợ cho anh không thì bọn nó đánh chết”. Buộc Kh. phải gọi điện thoại cho chị T.A. mang tiền lên và hẹn gặp địa điểm giao nhận tiền ở ngã 06 TP. B. Do không có ai canh chừng và sợ anh Kh. bỏ trốn nên Trịnh Q. A. gọi Lê T. An (sinh năm 1999) nhờ trông chừng anh Kh, Trịnh Q. A. đưa cho T. An 01 con dao gấp và 01 bộ kích điện và nói: “Mày canh chừng thằng này hộ anh, anh ra ngoài lấy tiền nếu nó chạy thì cứ đánh”. Sau đó, Trịnh Q. A. điều khiển xe mô tô đi gặp chị T.A. lấy tiền. Lúc này, Lê T. An. cất dao gấp vào túi quần và đặt bộ kích điện lên trên bàn, vừa chơi game trên điện thoại di động vừa theo dõi canh chừng giữ anh Kh. Một lúc sau, Trinh Q. A. gọi điện thoại cho Lê T. An. Khi Lê T. An vừa nghe máy thì anh Kh. đứng dậy cầm chai thủy tinh lao vào đánh Lê T. An rồi anh Kh. bỏ chạy ra ngoài đường. Lê T. An đứng dậy, cầm lấy bộ kích điện và con dao đuổi theo, chạy được 01 đoạn anh Kh. bị vướng vào lồng gà ngã ra đường, anh Kh. tiếp tục đứng dậy bỏ chạy được khoảng 50m thì Lê T. An đuổi kịp và cầm tay phải của Kh. giật mạnh làm anh Kh. ngã ngửa nằm xuống đất, sẵn có con dao gấp trong túi áo của Lê T. An rơi ra nên Lê T. An cầm con dao và đâm vào người anh Kh., thì anh Kh. đưa 02 tay lên đỡ nên bị đâm trúng nhiều nhát vào 02 cẳng tay, anh Kh. tiếp tục bỏ chạy thì bị vấp ngã, Lê T. An đuổi theo và dùng bộ kích điện để đánh anh Kh. Hai bên giằng co nhau, sau đó được mọi người can ngăn, anh Kh. chạy thoát được. Tại bản kết luận giám định thương tích đã kết luận anh Kh. bị chấn thương đầu, xuất huyết nội soi tỷ lệ 21/%, vết thương cẳng tay hai bên tỷ lệ 08/%, tổng tỷ lệ 29/%.

Bản án hình sự sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố B.tỉnh Đ. áp dụng khoản 2 Điều 104 BLHS; Điểm p Điều 46 điểm g, n khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999; Nghị Quyết số 144 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo Trịnh Q. A. 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 1 Điều 123; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g, n khoản 1 Điều 48 BLHS, xử phạt bị cáo Trịnh Q. A. 01 năm tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Trịnh Q. A. phải chấp hành 04 năm.

Trong thời hạn luật định, ngày 04/01/2017 người bị hại anh Kh. kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án hình sự sơ thẩm đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Trịnh Q. A. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 101/2017/HSPT ngày 27/3/2017 của TAND tỉnh Đ quyết định áp dụng khoản 2 Điều 104; khoản 1 Điều 123; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g, n khoản 1 Điều 48; khoản 1 Điều 50 BLHS. Xử phạt bị cáo Trịnh Q. A. 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, 01 năm tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội buộc bị cáo Trịnh Q. A. phải chấp hành là 04 năm tù.

Ngoài ra Hội đồng xét xử phúc thẩm đã kiến nghị TAND cấp cao kháng nghị và xét xử lại vụ án theo trình tự giám đốc thẩm để hủy 01 phần của 02 Bán án đối với bị cáo Trịnh Q. A. Giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm điều tra, truy tố và xét xử Trịnh Q. A. về hành vi: “Cướp tài sản” theo thủ tục chung.

Hỏi: Là Kiểm sát viên, anh (chị) hãy:
– Nhận xét về quyết định của bản án sơ thẩm, phúc thẩm đối với bị cáo Trịnh Q. A.?
– Nêu hướng giải quyết?

Nhận xét về quyết định của bản án sơ thẩm, phúc thẩm đối với bị cáo Trịnh Q. A.?

Bị cáo Trịnh Q. A. trước đó không quen biết, mâu thuẩn với anh Kh. nhưng với mục đích cố ý để lấy số tiền nợ cho V. và C. nên dùng xe mô tô chở anh Kh. đến nhà trọ nơi cách xa nhà anh Kh. Tại đây lợi dụng đêm tối, vắng người Trịnh Q. A. khống chế, bắt giữ trái pháp luật anh Kh., dùng lời lẽ và vũ lực nhằm chiếm đoạt lấy tiền (tài sản): Q. A. dùng bộ kích điện kích là loại phương tiện rất nguy hiểm dí điện vào phần bụng, vai, hông người anh Kh. và dùng tay, chân đấm, đạp liên tục anh Kh. ở nhiều vị trí khác nhau gây nên thương tích 29/%; làm cho anh Kh. lâm vào tình trạng không thể chống cự được, ép buộc anh Khánh phải gọi điện thoại về nhà bố mẹ và bạn thân để Q. A. chiếm đoạt tiền. Mặc dù Q. A. chưa nhận được tiền nhưng tội phạm đã hoàn thành. Với hành vi nêu trên, Trịnh Q. A đã phạm 02 tội: “Cướp tài sản” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 133 BLHS và: “Bắt giữ người trái pháp luật” theo Điều 123 BLHS năm 1999.

Bản án hình sự sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố B. xử phạt bị cáo Trịnh Q. A. 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” là sai lầm nghiêm trọng trong việc xác định tội danh.

Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định Trịnh Q. A. phạm tội: “Cướp tài sản” là chính xác nhưng không tuyên hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm điều tra, truy tố và xét xử Trịnh Q. A. về hành vi: “Cướp tài sản” theo thủ tục chung là không đúng.

Hướng giải quyết của Kiểm sát viên:

Sau khi nghiên cứu, báo cáo đề nghị Lãnh đạo Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm để hủy 01 phần hai Bản án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên về tội: “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo Trịnh Q. A., giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm điều tra lại bị cáo Trịnh Q. A. về tội “Cướp tài sản” theo quy định của pháp luật.

Nội dung vụ án 2

Khoảng 17 giờ ngày 14/5/2016 Nguyễn Văn V ở thôn L, xã Đ, huyện D, tỉnh V có nhờ anh Nguyễn Văn C ở cùng thôn đến lắp dàn ăng ten tivi tại nhà. Khi V đang buộc dàn ăng ten trên tầng 2, anh T lắp dây ăn ten ở tầng 1, lúc này còn có ông Hà Kim P và bà Nguyễn Thị H ở cùng thôn đến nhà V chơi, thì ông Đặng Kim T ở cùng thôn đi đến cổng nhà Viện, trên tay cầm một con dao nhọn dài khoảng 30 cm và chửi, nói: “Đ mẹ chúng mày, làm gì mà ồn ào thế”. V từ tầng 2 đi xuống, tay phải cầm một hộp khoan, tay trái cầm ½ viên gạch chỉ (loại gạch đặc để sử dụng kê cột ăng ten) đi xuống tầng 1 để ở bậc thềm hè nhà, rồi đi ra cổng gặp ông T nói: “Mày cầm dao đến nhà tao để làm gì, mày về đi”. Cùng lúc này có chị Lý Thị S ở cùng thôn đến can ngăn, kéo ông T về nhà, thì V quay vào đến bậc thềm nhà cúi xuống cầm hộp khoan và ½ viên gạch chỉ để đi làm tiếp thì có cháu Đỗ Khả M (sinh năm 2013) là cháu ngoại của V chạy đến ôm vào chân V. Cùng lúc này V nghe thấy tiếng của ông T nói: “ Hôm nay tao đâm mày chết”, quay lại nhìn thấy ông T đứng cách ông V khoảng 3 m, trên tay cầm dao 01 con dao nhọn dơ lên. V nghĩ ông T tiến đến đâm mình nên quay người lại, dùng ½ viên gạch đang cầm trên tay ném về phía ông T. Ông T bị V ném viên gạch trúng đầu, loạng choạng rồi ngã ngục tại chỗ thì được mọi người đưa đến bệnh viện đa khoa tỉnh V cấp cứu và điều trị ngày 11/6/2016 ra viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 133/TgT ngày 31/5/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh V kết luận: Vết thương phần mềm đỉnh lệch trái, xếp 2%; khuyết xương sọ trán đỉnh thái dương phải xếp 28 %; tụ máu dưới màng cứng bán cầu đại não phải xếp 23 %. Tổn hại sức khỏe ở thời điểm hiện tại của ông T là 46% bằng phương pháp cộng lùi.

Bản án hình sự sơ thẩm số 59 ngày 15/12/2016 của Toà án nhân dân huyện D đã xét xử, tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 47 BLHS năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phạm Văn V 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 21/7/2016 đến ngày 17/10/2016. Ngoài ra, bản án còn quyết định về bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

– Hỏi: Với tư cách là KSV – Phòng kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự VKSND tỉnh V được giao kiểm sát bản án hình sự sơ thẩm nêu trên, anh (chị) cho biết: Quyết định của TAND huyện D trong bản án trên đối với Phạm Văn V là đúng hay sai? Vì sao? Nêu hướng giải quyết.

Với diễn biến hành vi phạm tội như nêu trên, Bản án số 59/2016/HSST ngày 15/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện D xét xử bị cáo Phạm Văn V về tội “Cố ý gây thương tích”, theo khoản 3 Điều 104 của BLHS năm 1999 và tuyên phạt bị cáo 04 năm tù là không có căn cứ pháp luật (là sai). Bởi lẽ:

Giữa bị hại Đặng Kim T và bị cáo Phạm Văn V không có mâu thuẫn, thù tức gì nhau từ trước. Ngày 14/5/2016 do ông T đi qua nhà V thấy có đông người nên đã cầm dao đến chửi bới gây sự, V đã yêu cầu ông T về, lúc này chị Lý Thị S cũng đã đến can ngăn kéo ông T về nhà. Khi V đi quay vào đến thềm hè cầm hộp khoan và nửa viên gạch chỉ lúc trước để tiếp tục đi làm thì lại nghe thấy tiếng ông T nói ở phía sau là: “Hôm nay tao đâm chết mày”, V quay lại nhìn thì thấy ông T đang đi đến với khoảng chách khoảng 2 – 3m, trên tay cầm dao nhọn đã tút ra khỏi vỏ dơ lên. Nghĩ là ông T đâm mình, và cùng lúc đó có cháu M đang ôm lấy chân V, nên V đã dùng nửa viên gạch chỉ đang cầm ở tay ném về phía ông T, Hậu quả ông T bị chấn thương sọ não mất 46% sức khỏe. Như vậy, việc ông T tiến về phía V với khoảng cách 2 – 3m, mồm nói: “Hôm nay tao đâm chết mày”, đồng thời tay cầm dao nhọn dài khoảng 30cm đã rút ra khỏi vỏ nhứ đâm là đã thể hiện sự uy hiếp, đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của Viện cũng như của cháu M.

Tuy nhiên, với hành vi trên của ông T thì V có thể dùng lời nói yêu cầu ông T dừng lại hoặc có lựa chọn khác, nhưng V đã không nói gì, không bỏ chạy… mà khi thấy ông T rút dao ra nhứ đâm, nghĩ là ông T sẽ đâm mình nên V đã dùng ngay nửa viên gạch chỉ đang câm trên tay ném vào đầu ông T để ngăn cản hành vi của ông T như nêu trên rõ ràng là quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Do vậy, hành vi của Phạm Văn V đã thỏa mãn yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích… cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”, theo quy định tại khoản 1 Điều 106 của Bộ luật hình sự năm 1999.

– Hướng giải quyết: Kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2016/HSST ngày 15/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh V (phần tội danh và hình phạt của bị cáo Phạm Văn Viện).

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh V xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2016/HSST ngày 15/12/2016 của Tòa án huyện D theo hướng áp dụng khoản 1 Điều 106 của Bộ luật hình sự năm 1999, để xét xử bị cáo về tội: “Cố ý gây thương tích… cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”, và giảm hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn Viện.