Câu hỏi:

Xác định thời điểm mở thừa kế và ý nghĩa của việc xác định thời điểm mở thừa kế?

Trả lời:

1. Thời điểm mở thừa kế:

– Theo quy định tại khoản 1 điều 611 BLDS 2015 thì thời điểm mở thừa kế được xác định trong 2 trường hợp: (03 điểm)
+ Trường hợp người chết về mặt sinh học (chết thực tế) thì thời điểm mở thừa kế đối với di sản do người đó để lại là thời điểm người đó chết. (03 điểm)
+ Trường hợp 1 người chết về mặt pháp lý (bị tuyên bố là đã chết) thì thời điểm mở thừa kế đối với di sản do người đó để lại là ngày chết của người đó được Tòa án có thẩm quyền xác định cụ thể trong quyết định tuyên bố người đó đã chết. (03 điểm)

2. Ý nghĩa của việc xác định thời điểm mở thừa kế

– Xác định chính xác di sản thừa kế của người chết để lại (02 điểm). Trong thực tế, tài sản mà người lập di chúc định đoạt trong di chúc có thể khác với tài sản mà họ để lại sau khi chết, bởi lẽ, từ thời điểm 1 người lập di chúc cho đến khi người đó chết thường là một khoảng thời gian tương đối dài và trong khoảng thời gian đó, có thể có nhiều tài sản của người lập di chúc vì nhiều nguyên nhân khác nhau có thể bị tiêu hủy, mất mát nhưng người lập di chúc vẫn giữ nguyên di chúc mà không xác định lại tài sản được định đoạt trong di chúc. Ngoài ra trong thực tế thời điểm mở thừa kế và thời điểm phân chia di sản là khác nhau, thậm chí có những việc thừa kế sau một thời gian dài mới phân chia di sản, nên di sản có sự biến động do nhiều nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan.

– Xác định thời điểm mở thừa kế là căn cứ để xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế (02 điểm). Bởi theo quy định tại điều 636 BLDS 2015 thì kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

– Xác định thời điểm mở thừa kế là căn cứ để xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc do người chết để lại (02 điểm).

– Xiệc xác định thời điểm mở thừa kế là căn cứ để xác định người thừa kế của người để lại di sản (02 điểm). Bởi lẽ, người thừa kế nếu là cá nhân thì cá nhân đó phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Nếu là cơ quan, tổ chức thì cơ quan, tổ chức đó phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Ngoài ra, những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm thì họ cũng không được hưởng thừa kế di sản của nhau.

– Thời điểm mở thừa kế là căn cứ để xác định thời hạn, thời hiệu trong thừa kế (02 điểm).

Ngày 01/4/2014, Tòa án nhân dân huyện H, TP Hà Nội Ngày 05/8/2015 TAND huyện C tiến hành xét xử Nguyễn Văn B 07 năm tù về tội cố ý gây thương tích và buộc B phải bồi thường cho bị hại số tiền tổn hại sức khỏe là 100.000.000 đồng. Nguyễn Văn B kháng cáo bản án trên. Ngày 28/02/2016 Tòa án nhân dân tỉnh H xét xử Nguyễn Văn B về tội cố ý gây thương tích theo trình tự phúc thẩm. Bản án số 234/HSPT của TAND tỉnh H đã tuyên phạt B 06 năm tù, đồng thời buộc B phải bồi thường cho bị hại Trần Văn K số tiền 100.000.000 đồng. (Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án, gia đình Nguyễn Văn B đã nộp số tiền nêu trên để khắc phục hậu quả tại biên lai thu số 1350 ngày 20/02/2016 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh H).

Ngày 16/10/2016 ông Trần Văn K có đơn yêu cầu thi hành án gửi Cục THADS tỉnh H, ngày 20/10/2016 Cục Thi hành án dân sự tỉnh H ban hành quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 56/QĐ-CTHADS, ngày 29/11/2016 tiến hành chi trả cho ông Trần Văn K số tiền 100.000.000 đồng và tiến hành thu phí thi hành án 3.000.000 đồng đối với ông Trần Văn K theo quyết định thu phí số 21/QĐ-CTHA ngày 29/11/2016.

Hỏi: Theo anh (chị) việc Cục Thi hành án dân sự tỉnh H ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu và tiến hành thu phí thi hành án đối với ông K đúng hay sai? Vì sao?

Việc ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu và thu phí thi hành án là Sai với quy định của Luật Thi hành án dân sự 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 (05 điểm).
Vì :

1. Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 35 Luật THADS được sửa đổi bổ sung năm 2014 về thẩm quyền thi hành án thì Thẩm quyền thi hành bản án, quyết đị trong trường hợp này thuộc cơ quan thi hành án dân sự huyện C; (05 điểm)

Theo quy định tại Khoản 2 Điểm b Khoản 1 Điều 35 Luật THADS được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành một số bản án, quyết định nhưng trong đó không có quy định đối với Bản án phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh cùng địa bàn.Do vậy việc cơ quan thi hành án tỉnh H ra ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của ông Trần Văn K là trái thẩm quyền (05 điểm)

2. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 47 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ về những trường hợp không phải chịu phí thi hành án thì: Người được thi hành án không phải chịu phí thi hành án đối với tiền bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe. Do vậy Ông Trần Văn K không phải chịu phí thi hành án vì đây là tiền bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe. Nên Cơ quan thi hành án thu phí thi hành án 3.000.000 đồng của ông Trần Văn K trong trường hợp này là sai. (05 điểm)